BỜ NÀY VÀ BỜ KIA
Khi tâm thức đã tạo ra cái này và cái kia, nó sẽ bám dính không rời ý niệm được tạo ra. Được nghe rằng bờ bên kia là bờ an vui, người có trí tưởng tượng phong phú sẽ cho rằng có một bờ kia là Niết Bàn an vui. Giả sử có chăng nữa thì đó vẫn là sự đạt được với chấp thủ. Niết Bàn là vô thủ, không thể đạt được với bất kỳ sự nắm giữ nào.
Thực tế, không có bờ nào cả - không cả bờ bên này hay bờ bên kia. Còn tạo ra ý niệm về "bờ" thì tâm trí vẫn còn chỗ để nắm giữ. Đối với Đức Phật không có bờ nào cả:
"Không bờ này bờ kia,
Cả hai bờ không có,
Lìa khổ không trói buộc,
Ta gọi Ba La Môn." (Pháp cú 384)
Giữa một biển khổ mênh mông, thời khắc nào không còn chồng chất và ảo tưởng, cũng có nghĩa là lìa khổ không còn các trói buộc thì xung quanh ta đâu cũng là bờ. Nó sẽ ở trạng thái "vô bờ bến", tâm không bị chấp trụ vào bất kỳ đối tượng nào. Còn bờ nào nữa thì đó cũng chỉ là ảo tưởng.
"Với ai, không có gì,
Do rừng ái sanh khởi,
Tạo nhân khiến trói buộc
Con người vào tái sanh.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa." (Kinh Rắn)
Cũng đôi khi chúng ta được nghe "quay đầu lại là bờ", rồi tâm ta cũng có thể hỏi: "Vậy phía trước không là bờ hay sao?" và nó tạm suy ra "quay đầu lại là bờ, phía trước cũng là bờ". Nếu hiểu theo tinh thần của Đức Phật, khi buông bỏ, không còn chồng chất, ảo tưởng thì đâu cũng là bờ. Không còn phải vướng bận thêm thắt ý niệm ràng buộc nào nữa.