GHI NHỚ - LƯU GIỮ
Trong đời sống hàng ngày, có nhiều việc cần nhớ hay cần phải suy nghĩ để xử lý, chẳng hạn lái xe đi làm, đi chợ, học bài, nghiên cứu, pha trà, rót nước. Nếu không có hoạt động ghi nhớ thì thậm chí người ta cũng không biết gọi tên người quen (vì không nhớ), làm thế nào để đi từ nhà ra chợ, bật máy giặt ra làm sao. Học bài hay học ngoại ngữ rất cần tới bộ nhớ tốt, nếu không thì chẳng có gì nhập tâm vào đầu, người ta sẽ trở thành lơ ngơ. Những ghi nhớ hay suy nghĩ loại này mang tính vận hành, kỹ thuật để xử lý các hoạt động thông thường trong cuộc sống mà không mang tính cảm xúc cũng như không có tính đồng hóa cá nhân. Như vậy, trong cuộc sống những ghi nhớ này là cần thiết và cũng không cần phải quá lạm bàn đến nó.
Có một loại ghi nhớ khác, mang tính lưu giữ, chồng chất và chính loại ghi nhớ này tạo nên những cảm xúc tâm lý và định hình hay đồng hóa đối với cái "tôi". Ví dụ, hôm trước có một người nói xấu sau lưng, bữa nay gặp lại, lập tức hình ảnh, lời nói của người đó xuất hiện trong tâm trí làm người ta bức xúc, khó chịu. Và từ đó sẽ nảy sinh những phản ứng tiêu cực và đối đáp không hay. Như vậy, người ta đã lưu giữ lời nói xấu về mình, lưu giữ hình ảnh "đáng ghét" liên quan đến cử chỉ, ánh mắt, lời nói của người kia. Bây giờ gặp lại, tự nhiên những gì chất chứa sẽ bung ra và người ta chỉ muốn trút ra cho hả giận, muốn ba mặt một lời, muốn làm cho đến nơi đến chốn, muốn cho bên kia chỉ có nước chui xuống lỗ.
Nếu lời nói sau lưng, người ta không quá nặng lòng, không để bụng, nghe mà không lưu giữ về mặt cảm xúc thì sẽ chẳng có gì để mà tổn thương. Không có ý niệm về "tôi" thì không có tổn thương; tổn thương là do quá đề cao ý niệm về "tôi", tổn thương vì quá yêu bản thân, tổn thương do có lưu giữ và dán quá nhiều nhãn mác lên hiện tượng xảy ra. Thực tế, cái gì xong là đã xong, gợi nhớ lại những gì mang tính cảm xúc có nghĩa là chồng chất, tạo tác - là nhân tố cơ bản để nghiệp lực vận hành. Còn việc nhớ đi từ nhà đến trường, không có tính cảm xúc, không có tính cá nhân, chỉ là một hành động thông thường, không tạo nên nghiệp lực.
Chánh niệm có nghĩa là ghi nhớ không quên thực tại đang xảy ra. Ghi nhớ trong trường hợp này có nghĩa là có sự hay biết, tỉnh thức đối với thực tại. Mà bản chất của thực tại là luôn thay đổi, vô thường; những gì có tính vô thường thì không thể lưu giữ, chất chứa. Bất cứ khi nào có hay biết - tỉnh thức thì không có những lưu giữ, chất chứa về mặt cảm xúc, nó có tính "từng khoảnh khắc" mà mỗi khoảnh khắc luôn là sự chấm dứt. Như vậy, quan sát hay ghi nhớ có chánh niệm sẽ không để lại bất kỳ dư tàn nào có thể gây ảnh hưởng sau này về mặt tâm lý hay nghiệp lực.