Wednesday, May 20, 2020

VÔ LƯỢNG TỪ TÂM

Tâm từ là một trong Tứ Vô Lượng Tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả), một trong mười ba la mật (pāramī). Vô lượng là trạng thái bao quát, phủ khắp, không còn bị giới hạn, không loại trừ, không phân biệt bất cứ đối tượng nào. Đối tượng của tâm vô lượng là hết thảy chúng sinh, trong đó bao gồm cả chư thiên, loài người, phi nhân, ngạ quỷ, súc sinh ... Như vậy, nó không phân biệt, hướng tới một đối tượng cụ thể nào. Nếu hướng tới một đối tượng nào đó, nó sẽ bị hạn lượng, thu hẹp lại, không còn khả năng ban rải vô biên.

Vô lượng chúng sinh cũng có nghĩa là không còn nhắm tới một đối tượng cụ thể, không còn định danh mà vẫn bao quát, không bỏ sót bất kỳ ai. Vô lượng trở thành không rào cản, không hạn lượng, không cụ thể. Chính vì vậy, "Không" là vô lượng, vô lượng là Không.

Nếu nói rằng rải tâm từ để bị dính mắc vào đối tượng thì thật sự đó không phải tâm từ, đó là tâm từ giả hay tâm từ bị đội lốt. Vì trạng thái không có đối tượng cụ thể thì làm sao có thể nhắm tới "ai" để mà dính mắc khởi sinh hoặc nếu có đối tượng nhưng tâm ở trạng thái xả quân bình nên cũng không thể dính mắc. Như vậy, cần hiểu đó không phải là tâm từ thực sự. Ví như một cây xanh có tán lá lớn, nó chỉ đơn giản là tỏa bóng mát, một cách tự nhiên chim sẽ tìm tới làm tổ. Cây chẳng bao giờ nghĩ rằng "cây cao bóng cả" của mình là để dành cho mấy chú chim.

Thực tế, tâm từ chính là trạng thái vô sân (adosa). Trạng thái tâm vô sân hướng tới mọi chúng sinh không phân biệt thì được gọi là tâm từ. Khi có tâm từ thì đó chính là vô sân, nhưng không phải vô sân nào cũng là tâm từ. Vì đối tượng của tâm từ là chúng sinh, còn đối tượng của vô sân không phải là chúng sinh. Chỉ khi nào ở trạng thái vô sân và hướng tâm "cầu mong cho tất cả chúng sinh được an vui hạnh phúc" thì được gọi là ban rải tâm từ.

Xét về mặt thực hành, thời khắc nào hoàn toàn vô sân và hướng tâm tới mọi chúng sinh bao gồm cả các đối tượng không ưa thích thì đó chính là rải tâm từ. Còn nếu chỉ đơn thuần hướng tâm tới các chúng sinh mà tâm còn có bức xúc, hồi hộp, lo âu thì thực chất không có tâm từ nào cả.

Khi thực sự phát triển được trạng thái tâm từ thì không còn dính mắc vào bất kỳ ai. Một bà mẹ quá yêu thương, quyến luyến đứa con mình thì đó là luyến ai (pema) mà không phải là từ tâm. Do bà mẹ quá để tâm tới một đối tượng cụ thể nên có sự dính mắc và hơn nữa không thể nào san sẻ cho các đối tượng khác (trẻ con nhà hàng xóm chẳng hạn) một cách bình đẳng. Tâm từ thực sự luôn trở trạng thái quân bình, xả (upekkhā), không còn bị kẹt vào bất kỳ đối tượng chúng sinh nào, không có sự phân biệt đối xử.

Có người sợ rằng phát triển tâm từ thì người ta sẽ dính mắc vào mình hoặc mình dính mắc vào người ta. Chúng ta cứ hay "lo bò trắng răng". Người ta dính mắc vào nhau hay không là do ân oán, duyên nghiệp. Nếu còn duyên nghiệp với nhau, dù không phát triển một chút từ tâm nào, người ta cũng dính với nhau như sam. Khi duyên nghiệp hết thì có từ tâm bao nhiêu, họ cũng chỉ "kính nhi viễn chi" thôi.

Trong Tăng Chi Kinh (AN 11.16), Đức Phật có nói về 11 lợi ích của tâm từ:

- Ngủ an lạc,
- Thức an lạc,
- Không có ác mộng,
- Được loài người yêu mến,
- Được phi nhân yêu mến,
- Được Chư Thiên bảo hộ,
- Không bị lửa, thuốc độc, kiếm làm hại,
- Tâm thiết lập định mau chóng,
- Sắc mặt trong sáng,
- Khi mệnh chung không bị mê mờ
- Được sanh lên Phạm thiên giới nếu chưa thể nhập thượng pháp (A-la-hán quả).

THỰC TẠI VÀ SO SÁNH Nhận biết thực tại đang xảy ra có nghĩa là khám phá trong từng khoảnh khắc toàn bộ mọi trải nghiệm. Ngoài cái đó ra kh...