Thursday, May 21, 2020

NIỀM TIN

Có nhiều quan niệm và định nghĩa về niềm tin. Một trong các định nghĩa, theo từ điển Merriam Webster "Niềm tin là sự tin tưởng một cách chắc chắn vào điều gì đó mà không có bằng chứng". Định nghĩa này nghe có vẻ hơi lạ tai, nhưng chúng ta có thể hiểu thông qua một ví dụ như sau:

Giả sử, một người nắm bàn tay lại và nói rằng: "Trong tay tôi có một viên kim cương". Thực tế, chúng ta không có thần thông hay năng lực siêu nhiên nên hoàn toàn không biết trong tay người đó có viên kim cương hay không. Nhưng vì tin tưởng người này là người nổi tiếng, có đức hạnh, chính trực và không bao giờ nói dối nên chúng ta tin vào điều người đó nói, mặc dù không thấy và không biết viên kim cương.

Nếu người đó mở bàn tay ra, chúng ta đã tận mắt nhìn thấy viên kim cương thì lúc này không còn niềm tin rằng trong tay người đó có viên kim cương. Câu hỏi: "quý vị có tin rằng trong tay tôi có viên kim cương?" là hoàn toàn không cần thiết. Khi đã thấy và biết thì không còn niềm tin một cách mơ hồ.

Chính vì vậy, niềm tin thường đặt một cách loạng quạng theo cảm tính khi mà tâm thức không có sự rõ ràng. Lúc này cảm xúc đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định. Đây là điểm mấu chốt mà những người làm quảng cáo nắm thóp để giới thiệu bán sản phẩm. Cái họ cần là tạo ra những gì thông qua mắt nhìn và tai nghe một xúc cảm đặc biệt khác thường - nhân tố đánh thẳng vào tâm thức để từ đó đưa ra quyết định.

Nếu là người trong nghề, biết rõ ràng về tác dụng và phẩm chất của sản phẩm thì người ta không cần phải tin theo quảng cáo mà tự mình với sự hiểu biết sẽ quyết định những gì có lợi nhất.

Theo Chú giải Bộ Pháp Tụ, chức năng của niềm tin là xóa tan mọi hoài nghi, làm cho tâm thức trở nên hoàn toàn thanh tịnh. Khi đó, người ta không còn đặt ra câu hỏi đại loại như: "Làm như vậy có đúng hay không?", không cần một sự xác chứng nào nếu tâm thức đã chấm dứt hoài nghi. Nếu không như vậy, hoài nghi sẽ trở thành đối tượng đề mục để quán chiếu, không phải việc có được câu trả lời một cách dễ dàng sẽ giúp diệt dứt hoài nghi.

Niềm tin và hoài nghi là một cặp tỷ lệ nghịch với nhau, hoài nghi càng lớn thì niềm tin càng nhỏ và ngược lại. Hoài nghi gắn chặt với hoạt động của tưởng. Có câu chuyện, có một người buổi sáng phát hiện mất cái cuốc và nghi ngờ anh hàng xóm ăn trộm. Người đó thấy cách anh ta đi cũng giống kẻ ăn trộm, cách anh ta nhìn cũng giống kẻ ăn trộm, cách anh ta nói cũng giống kẻ ăn trộm. Tới chiều phát hiện cái cuốc ở góc bếp, tất cả các tướng giống kẻ ăn trộm của anh hàng xóm đều biến mất.

Khi niềm tin đi cùng sự hiểu biết sẽ thể hiện thành khả năng quyết tâm không nhụt chí trong việc thực hiện hành động. Đó không còn là một niềm tin suông. Chính vì vậy ngài Sāriputta đã dõng dạc trả lời Đức Phật rằng ngài không đơn thuần chỉ đến với Đức Phật vì niềm tin.

"Ở đây, bạch Thế Tôn, con không đi với lòng tin của Thế Tôn, rằng tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh. Với những ai, bạch Thế Tôn, không chứng trí, không thấy, không hiểu, không chứng ngộ, không đạt tới với trí tuệ; họ cần đi với lòng tin của kẻ khác."
(Pubbakotthaka sutta, Tương Ưng Kinh)

THỰC TẠI VÀ SO SÁNH Nhận biết thực tại đang xảy ra có nghĩa là khám phá trong từng khoảnh khắc toàn bộ mọi trải nghiệm. Ngoài cái đó ra kh...